image banner
Tin tức
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cho trẻ Mẫu giáo

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


ĐƠN YÊU CẦU

CÔNG NHẬN PHẠM VI ẢNH HƯỞNG,

HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN

Kính gửi[1]:

 

Chúng tôi/tôi kính đề nghị Quý cơ quan/đơn vị xem xét, công nhận phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của  sáng kiến như sau:

 

TT

Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác (hoặc nơi cư trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến (ghi rõ đối với từng tác giả nếu có)

01

Trương Thị Bích Thuận

11/8/1982

Mẫu giáo Điện Nam Đông

Hiệu trưởng

Cử nhân

SPMN

 

- Là tác giả (nhóm tác giả) đề nghị xét công nhận phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của sáng kiến

 [2]: Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cho trẻ trong trường mẫu giáo Điện Nam Đông.

- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến)[3] :

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến[4]: Giáo dục

- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử (ghi ngày nào sớm hơn)[5]: 10/9/2023.

- Hồ sơ đính kèm:

+ Đơn đề nghị công nhận phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của sáng kiến; Báo cáo sáng kiến

+ Các tài liệu, giấy tờ, hình ảnh liên quan (nêu cụ thể, nếu có)

Chúng tôi/ tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

                                                                     Điện Nam Đông, ngày 15 tháng 4 năm 2024
                                                                 Người nộp đơn
                                                                           (Ký và ghi rõ họ tên)

Phụ lục II

 

Mẫu Báo cáo về phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của sáng kiến

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

 


BÁO CÁO

PHẠM VI ẢNH HƯỞNG, HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CỦA SÁNG KIẾN

 

 

1. Tên sáng kiến

Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cho trẻ trong trường mẫu giáo.

2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

Tên và địa chỉ của chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.

3. Giấy chứng nhận/Quyết định công nhận sáng kiến số:

4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục

5. Thời điểm sáng kiến được áp dụng lần đầu: 10/9/2023

          6. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến (các vấn đề tồn tại trước khi thực hiện sáng kiến, có thể là các khó khăn, bất cập,…).

Bữa ăn học đường hay bữa ăn ở trường học là bữa ăn được chuẩn bị để cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cho các em học sinh ở trường học. Bữa ăn học đường có thể là bữa ăn sáng, bữa ăn trưa, bữa chiều và các bữa phụ (bữa xế) vào giữa sáng hoặc giữa chiều. Số lượng các bữa ăn học đường thay đổi tùy theo loại hình tổ chức bán trú, nội trú và cấp học.

Nhà trường căn cứ Kế hoạch số 24/KH-PGDĐT ngày 28/4/2023 về tập huấn triển khai công tác tổ chức bữa ăn học đường và kết hợp tăng cường thể lực cho trẻ mầm non, năm học 2022-2023 và được dự tấp huấn thực tế tại trường mẫu giáo Điện Hòa vào ngày 12/5/2023. Đối với tổ chức bữa ăn học đường so với tổ chức bữa ăn trước đây có nhiều thay đổi.

Công tác tổ chức bữa ăn học đường tại trường gặp nhiều khó khăn. Trước tiên là số tiền ăn 15.000đ/trẻ/ngày là một bài toán khó đối với việc tổ chức bữa ăn học đường. Thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất phục vụ công tác tổ chức bữa ăn học đường còn chưa đáp ứng, dụng cụ trẻ dùng ăn trưa từ sử dụng tô inox chuyển sang dùng khay inox. Việc đầu tư xây dựng thực đơn, chất lượng bữa ăn dinh dưỡng hợp lý, đủ thành phần thay đổi từ 03 món: món cơm, món canh và món mặn chuyển sang 05 món: món cơm, món canh, món mặn, món xào, món tráng miệng. Sự thay đổi lớn trong thực đơn cũng như cải tiến chất lượng thực đơn là một vấn đề khó khăn nhất là món xào, bởi trẻ mẫu giáo rất ít thích ăn rau, củ xào.

Nhận thức về vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của bữa ăn học đường với dinh dưỡng hợp lý của một bộ giáo viên, nhân viên và cha mẹ trẻ chưa đầy đủ. Hình thành thói quen ăn uống khoa học, có lợi cho sức khỏe ở trẻ một bộ phận cha mẹ trẻ chưa quan tâm.

Việc tổ chức bữa ăn học đường cho trẻ tại trường cùng với việc phải khắc phục những khó khăn trên, từng bước nâng cao chất lượng bữa ăn học đường đảm bảo khuyến nghị năng lượng và chế độ ăn cho trẻ mẫu giáo, đảm bảo thực đơn khoa học, cân đối, hợp lý bảo đảm dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, phù hợp tình hình thực tế nhà trường, địa phương. Bản thân tôi suy nghĩ trăn trở  và chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cho trẻ trong trường mẫu giáo” nhằm tổ chức tốt bữa ăn học đường cho trẻ tại nhà trường.

7. Nội dung sáng kiến (các giải pháp cụ thể để giải quyết thực trạng nêu trên)

1.1.1 Biện pháp 1: Tổ chức bữa ăn học đường bảo đảm xây dựng thực đơn khoa học, cân đối, hợp lý

 

Thực đơn bữa ăn học đường cần bảo đảm đa dạng thực phẩm. Chế biến gồm có món cơm, món xào, món mặn, món canh, món tráng miệng. Nên có ít nhất 5 trong 8 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, trong đó nhóm chất béo là bắt buộc. Gồm: nhóm thực phẩm giàu chất đạm (thịt, cá, thủy sản, trứng, đậu đỗ...), chất béo (dầu ăn, mỡ), chất bột đường (cơm, mì, phở, bún...), rau, trái cây, sữa. Thực đơn mang tính khả thi, chế biến hợp lý bảo đảm dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, phù hợp theo quy định và điều kiện của bếp ăn nhà trường.

Số bữa ăn trẻ mẫu giáo trường mẫu giáo thực hiện một bữa chính và một bữa phụ. Khẩu phần ăn phải được xây dựng dựa trên thực phẩm sẵn có của địa phương và mức đóng góp tiền ăn của trẻ. Căn cứ nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, tháp dinh dưỡng cân đối cho trẻ mầm non là cơ sở để lựa chọn để xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa. Các món ăn trong thực đơn bữa trưa: món cơm, món canh, món mặn, món xào luộc, tráng miệng không lặp lại trong tuần và được xây dựng bằng cách phối hợp nhiều loại thực phẩm để tạo ra sự đa dạng, hấp dẫn và tăng giá trị dinh dưỡng cho thực đơn. Nhà trường chế biến các món ăn dựa theo định lượng đã được tính toán cho từng món ăn để tránh cho trẻ không bị nhàm chán. Thực đơn cân đối, hợp lí, đa dạng nhiều loại thực phẩm, thay đổi sự kết hợp giữa các loại thực phẩm để tạo ra các món ăn khác nhau để cung cấp nhiều các chất dinh dưỡng khác nhau cho cơ thể trẻ khỏe mạnh và phát triển, hạn chế sử dụng thực phẩm đóng gói và chế biến sẵn; hạn chế đường và muối. Thực đơn bữa xế: cháo, súp, sữa bột pha nước ấm bảo đảm theo quy định, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

 

1.1.2 Biện pháp 2: Hợp đồng thực phẩm

 Hợp đồng thực phẩm là việc làm quan trọng của bếp ăn tập thể nhằm đảm bảo chất lượng, số lượng, giá cả và nhằm đảm bảo an toàn khi sử dụng sản phẩm, hạn chế đến mức thấp nhất việc mất an toàn rủi ro khi sử dụng, có giá trị về mặt pháp lý nếu xảy ra mất an toàn.

 Đối với bếp ăn trường mầm non việc hợp đồng thực phẩm càng đặc biệt quan trọng, vì cơ thể trẻ non nớt dễ bị ngộ độc, số lượng trẻ ăn tại trường đông (100% trẻ ăn tại trường), nếu xảy ra mất an toàn là thiệt hại rất lớn, có khi ảnh hưởng tới tính mạng trẻ. Vì vậy việc ký hợp đồng thực phẩm quy đồng trách nhiệm của chủ hàng là thực sự cần thiết với mỗi trường mầm non nếu không may xảy ra ngộ độc hàng loạt. Nhằm giảm tối đa việc ảnh hưởng tới sức khỏe trẻ. Ngoài ra ký hợp đồng thực phẩm còn nhằm quản lý tốt tiền ăn của trẻ tránh thất thoát lãng phí.

Nhà trường đã ký hợp đồng với công ty thực phẩm Võ Quang đảm bảo bếp ăn của trường luôn được cung cấp nguồn thực phẩm, gạo, gia vị, trái cây đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, tươi ngon, đủ số lượng và chất lượng đảm bảo.

 

  1.1.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo bộ phận nuôi dưỡng lựa chọn giao nhận thực phẩm vào bếp ăn hàng ngày.

 

  Có thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm thì thực phẩm đưa vào bếp ăn mới đảm bảo an toàn đủ số lượng, đảm bảo chất lượng và tránh được thất thoát thực phẩm và tiền ăn của trẻ. Chính vì đánh giá cao khâu giao nhận thực phẩm nên bản thân đã chỉ đạo tốt khâu giao nhận thực phẩm đúng quy định đủ thành phần và có trách nhiệm tránh hời hợt hình thức.

  Nhà trường thành lập Ban tiếp phẩm và nhóm zalo “Ban tiếp phẩm” ngay từ đầu năm học, hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Ban tiếp phẩm thực hiện giao, nhập thực phẩm, gạo, gia vị, sữa đúng qui định, kiểm tra kỹ chất lượng, số lượng, xem tình trạng qua hình thức bên ngoài, khi nhập có đảm bảo tươi mới, có dấu hiệu bị dập nát không? nếu không đảm bảo không cho nhập vào bếp.

 

  1. Cách chọn rau:

     

     - Đối với rau ăn lá: Không nên chọn những bó rau có màu xanh quá đậm, quá mướt, lá bóng mà nên chọn rau có màu xanh nhạt, cây rau có vẻ bình thường.

     - Đối với rau ăn ngọn (rau lang, rau dền, rau mông tơi…): Không nên chọn nhập những bó rau có ngọn vươn ra quá dài, nếu để ngày hôm sau sẽ thấy rõ ngọn sẽ vươn dài ra từ 5 đến 10 cm.

    - Rau cải (cải xanh, cải thảo, cải bó xôi) khi nhận thực phẩm cần kiểm tra kỹ, bằng cách bẻ ngang phần gốc, nếu thấy có nước từ thân tiết ra thì không nhập vào bếp ăn vì rau cải đã bị bón quá nhiều phân đạm, không đảm bảo thời gian cách li, hàm lượng nitrat trong rau còn rất cao, nếu để thử quá 12 giờ thì thấy rau bị nẫu đen, ủng.

    - Đối với rau củ, quả: không nhập những quả, củ quá lớn, mà chọn những củ, quả có kích thước vừa phải, hoặc hơi nhỏ, không chọn những trái da căng và có vết nứt, dọc theo thân, những trái da xanh bóng.

    - Các loại quả đậu đỗ (đậu tây, đậu Hà lan, đậu đũa…) không nhập những quả khi nhìn thấy bóng nhẫy, ít lông tơ.

    Nhắc nhở cấp dưỡng, giáo viên khi nhận thực phẩm nhất là rau củ cần kiểm tra kỹ bề ngoài bằng cảm quan và kinh nghiệm.

  2. Cách chọn thịt

 

          Thịt lợn ngon: Thịt lợn tươi có màng ngoài khô, màu sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, óng ả. Mỡ có màu sắc, độ rắn, mùi vị bình thường. Vết cắt lấy ngón tay ấn vào thịt, không để lại vết lõm khi bỏ ngón tay ra và không bị dính. Khi luộc hoặc chế biến, nước canh trong, mùi vị thơm ngon, trên mặt có nổi một lớp mỡ với vết mỡ to.

         Thịt bò ngon: Về màu sắc, thịt bò tươi ngon sẽ có màu đỏ đặc trưng. Mỡ bò tươi sẽ có màu vàng nhạt. Thịt bò tươi có độ đàn hồi tốt. Bề mặt miếng thịt bò tươi sẽ khô mịn. Chúng ta cũng có thể quan sát nhận biết thịt bò tươi bằng cách để ý khi thái, miếng thịt thường dính dao.

Trong năm học qua nhờ làm tốt khâu giao nhận thực phẩm nên không xảy ra ngộ độc thực phẩm đảm bảo an toàn cho trẻ đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng lựa chọn nhận thực phẩm của các thành viên trong “Ban tiếp phẩm” nhà trường.

1.1.4 Biện pháp 4: Tăng cường kiến thức cho cấp dưỡng khi sơ chế và chế biến thực phẩm tại bếp ăn hàng ngày

 Cấp dưỡng là người trực tiếp nhận và sơ chế thực phẩm, để có món ăn an toàn hạn chế thất thoát chất dinh dưỡng có trong thực phẩm ngay từ khi nhận sơ chế, cấp dưỡng cần nắm được các kỹ năng cơ bản trong sơ chế và chế biến thực phẩm nhất là rau củ. Khi thực hiện sơ chế và chế biến thực phẩm, nhất là các thực phẩm từ rau, quả nếu không đúng cách sẽ làm giảm chất lượng của rau củ, nếu phối hợp thực phẩm không phù hợp có thể gây bệnh cho người sử dụng. Vì vậy, việc nâng cao kiến thức, kỹ năng cho  cấp dưỡng là cần thiết trong chế biến bếp ăn tập thể. Cụ thể:

   Hướng dẫn kỹ cách rửa rau, điều này tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng rửa đúng cách: Đầu tiên nhặt lá vàng úa, lá sâu, cắt rễ rửa sạch đất cát, bùn dính, sau đó đem ngâm kỹ rau quả trong nước muối pha loãng (một muỗng cà phê muối cho khoảng 10 lit nước) sau đó rửa rau quả tiếp tục nhiều lần cho đến khi nước trong. Đối với rau có bẹ như rau cải thảo, bắp cải…  cắt bỏ phần gốc, tách rời từng lá sau đó ngâm trong nước muối pha loãng khoảng 20 phút , rửa kỹ từng lá, nhất là các kẽ lá thật sạch dưới vòi nước chảy ít nhất 3 lần trước khi chế biến. Rau ăn củ nên rửa sạch đất trước khi ngâm với nước muối pha loãng, sau đó rửa sạch.

 - Chế biến rau: Sử dụng nhiều loại rau trong bữa ăn, trong ngày trong tuần  để tránh ngộ độc vì ăn quá nhiều một loại rau, mà còn đảm bảo đúng nhu cầu dinh dưỡng. Khi xào, nấu…cần mở vung ra cho dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (nếu có) bay ra bớt.

Khi thực hiện đồng loạt các yêu cầu trên của biện pháp, tôi nhận thấy các thành phần tham gia giao nhập thực phẩm đã có kinh nghiệm hơn khi nhận và chế biến thực phẩm nhất là rau, quả vào bếp ăn của trường, Thực phẩm nhận luôn đảm bảo chất lượng và số lượng, tạm thời cảm quan bằng mắt thường an toàn, phòng tránh một số bệnh khi cho trẻ sử dụng.

Đồng thời, khi được đón Tổ kiểm tra Trung tâm y tế, kiểm tra chuyên môn có thể xuất trình đầy đủ giấy tờ qui định, tạo điều kiện đạt kết quả tốt sau kiểm tra, và có thể qui đồng trách nhiệm, yêu cầu chủ hàng chịu trách nhiệm pháp lý khi  gặp sự cố. Và trên hết là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng tránh bệnh cho trẻ tạo điều kiện chăm sóc trẻ được tốt hơn.

 

1.1.5. Biện pháp 5: Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng cho trẻ khi tổ chức bữa ăn học đường trong nhà trường

 

Song song với hoạt động triển khai áp dụng thực đơn mới, giáo dục dinh dưỡng là một trong những nội dung cơ bản trong Chương trình giáo dục mầm non nên môi trường ăn cũng đóng vai trò quan trọng. Để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng khi chăm sóc trẻ ăn, giáo viên phải tạo được cảm giác thư giãn, dễ chịu, hứng thú cho trẻ khi ăn và khuyến khích trẻ tự phục vụ trong bữa ăn.

Đối với trẻ 4-5 tuổi : Cô giáo hướng dẫn trẻ tự kê, xếp bàn ghế; rửa tay bằng xà phòng theo đúng quy trình các bước rửa tay trước khi ăn; chuẩn bị khăn mặt sạch để trên đĩa cho trẻ tự phục vụ khi cần. Giáo viên cùng trẻ chia cơm và thức ăn cho các bàn. Nên chia dư thêm một suất ăn để dự phòng khi trẻ muốn ăn thêm hoặc trẻ đánh đổ cơm hay thức ăn.

Đối với trẻ 3 tuổi : Cô giáo chuẩn bị bàn ăn phải sạch sẽ, gọn gàng, đủ cho trẻ ngồi, trên bàn phải có tô đựng cơm rơi, khăn ẩm để lau tay. Khay, muỗng phải đủ so với trẻ.

Cô giáo tạo hứng thú cho bữa ăn: Giới thiệu món ăn, cùng trẻ trò chuyện về các món ăn, cách chế biến thức ăn, lợi ích khi ăn đủ chất dinh dưỡng. Khi cho trẻ ăn, các cô giáo phải đeo khẩu trang, trong khi cho trẻ ăn cô cần chú ý đến những trẻ biếng ăn để động viên cháu ăn hết suất.

Cô giáo nhắc trẻ thực hiện những hành vi văn minh trong ăn uống như:

+ Ngồi ngay ngắn khi ăn;

+ Ăn gọn gàng, không rơi vãi;

+ Nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, nhai kĩ;

+ Không nói chuyện, cười đùa trong khi ăn;

+ Không bốc thức ăn;

+ Không tranh giành đồ ăn.

Giáo viên cùng trẻ nói chuyện về các món ăn, lợi ích của từng nhóm thực phẩm có trong món ăn, một số bệnh lí ở trẻ liên quan đến thói quen không tốt trong ăn uống (suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì, ngộ độc thực phẩm, sâu răng,...).

Đối với trẻ ăn chậm, không thích ăn rau củ: Giáo viên động viên, khuyến khích trẻ ăn nhanh, ăn hết suất. Khi đang ăn, nếu trẻ đi vệ sinh, cần nhắc trẻ rửa sạch tay.

Thông qua các bài học về môi trường xung quanh, giới thiệu các món ăn để giúp trẻ nhận biết về thực phẩm và nhóm thực phẩm, món ăn, vai trò của các nhóm thực phẩm đối với sức khỏe, tại sao cần ăn đa dạng thực phẩm, cách nhận biết các thực phẩm không lành mạnh, thực phẩm không an toàn, cách đọc nhãn mác... Qua đó, các bé sẽ nói được tên gọi thực phẩm, lợi ích của từng loại thực phẩm, cách chế biến thực phẩm.

Ngoài ra, giáo viên có thể lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vào các giờ hoạt động giáo dục cho trẻ một cách linh hoạt, phù hợp.

Ví dụ:

Trong giờ hoạt động Khám phá khoa học: cô giới thiệu các món ăn để giúp trẻ nhận biết về thực phẩm và nhóm thực phẩm, món ăn, vai trò của các nhóm thực phẩm đối với sức khỏe, tại sao cần ăn đa dạng thực phẩm, cách nhận biết các thực phẩm không lành mạnh, thực phẩm không an toàn. Qua đó, trẻ sẽ nói được tên gọi thực phẩm, lợi ích của từng loại thực phẩm, cách chế biến thực phẩm.

Trong giờ hoạt động ngoài trời: Cô cho trẻ đi tham quan vườn trường. Cô giáo giới thiệu cho trẻ biết đây là vườn rau sạch mà các cô cấp dưỡng trồng để phục  vụ bữa ăn hàng ngày cho trẻ. Thông qua giờ ăn, cô giáo giới thiệu cho trẻ biết hôm nay có những món gì. Trong các giờ học và hoạt động vui chơi, các cô giáo giải thích cho trẻ thấy được giá trị của từng loại thức ăn, ăn uống đầy đủ sẽ làm cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, thông minh học giỏi, nếu ăn không đủ chất sẽ gầy còm ốm yếu.

Sau khi ăn: Cô giáo hướng dẫn trẻ cách xếp khay, muỗng gọn gàng, cất đồ đúng nơi quy định sau khi ăn xong, nhắc trẻ rửa mặt, rửa tay, uống nước, súc miệng sau khi ăn, trẻ cùng cô lau bàn, cất bàn ghế, vệ sinh khu vực trẻ ăn và đặc biệt nhắc trẻ không chạy nhảy sau khi ăn.

Sau khi có được khẩu phần ăn hợp lý cho trẻ, tôi thường xuyên thăm giờ ăn các lớp xem trẻ thích ăn món nào và không thích ăn món nào để thay đổi và điều chỉnh thực đơn cho hợp lý cũng như trao đổi với giáo viên cố gắng động viên trẻ ăn, đặc biệt là món xào, canh rau.

1.1.6. Biện pháp 6: Công tác phối hợp, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về dinh dưỡng hợp lý, lành mạnh, triển khai thuận lợi bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý với cha mẹ trẻ.

 Nhà trường phối hợp với cha mẹ trẻ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ tại trường. Cha mẹ trẻ cần hiểu được chế độ ăn của trẻ ở trường để có sự phối hợp điều chỉnh thực hiện chế độ ăn tại nhà nhằm bảo đảm cung cấp đủ năng lượng trong ngày của trẻ. Việc cha mẹ trẻ thay đổi các món ăn khác với món ăn ở trường để tạo hứng thú cho trẻ khi ăn ở nhà theo nguyên tắc đa dạng thực phẩm; phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục dinh dưỡng tại nhà và tạo cho trẻ thói quen ăn uống lành mạnh. Không cho trẻ ăn muộn sau 20 giờ, hạn chế sử dụng đồ ăn, thức uống ngọt và nhiều muối.

Bé khỏe, bé ngoan thì cần có sự phối hợp giữa hai phía gia đình và nhà trường. Vì vậy tôi luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp từ phía cha mẹ trẻ đồng thời kết hợp với nhà trường tham mưu để tìm ra những phương án tốt nhất giúp công tác nuôi dưỡng đạt kết quả cao nhất. Cha mẹ trẻ phối hợp cùng nhà trường và xã hội tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức bữa ăn học đường là điều hết sức cần thiết.

Trong năm học 2022-2023, tiền ăn cho trẻ tại trường một ngày cho bữa chính và bữa phụ là 15.000 đồng/trẻ. Nhà trường đã tính toán và nhận thấy rằng với số tiền này để tổ chức bữa ăn học đường cho trẻ thì chưa đảm bảo. Đầu năm học, nhà trường đã họp cha mẹ trẻ toàn trường. Một nội dung quan trọng triển khai trong cuộc họp đầu năm học 2023-2024 là tổ chức bữa ăn học đường cho trẻ toàn trường. Một kết quả đáng mừng trong cuộc họp là được sự đồng thuận của 100% cha mẹ trẻ thống nhất tổ chức bữa ăn học đường cho trẻ tại trường và nâng tiền ăn lên 18.000đồng/trẻ/ngày, mua khay để thuận lợi tổ chức bữa ăn cho trẻ. Để có được kết quả này, trước đó, nhà trường tổ chức thí điểm bữa ăn học đường cho trẻ 5 tuổi, cha mẹ trẻ được đến thăm và chứng kiến bữa ăn học đường của trẻ tại trường.

Nhà trường xây dựng bảng thực đơn tại góc tuyên truyền của nhà trường và sưu tầm tranh ảnh vệ sinh ăn uống nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn để cha mẹ trẻ thấy rõ tầm quan trọng trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Sự phối hợp từ nhà trường và gia đình đó chính là một việc làm quan trọng và cần thiết bởi nếu chúng ta quan tâm tới trẻ và tìm ra những biện pháp kịp thời sẽ giúp trẻ khỏe mạnh, phát triển tốt.

  Nhà trường tổ chức hội thi “Bé vui cùng Ba mẹ và Cô giáo” vào ngày 07/1/2024 nhằm thực hiện chủ đề năm học xây dựng “Trường học hạnh phúc lấy trẻ làm trung tâm”. Thông qua hội thi, nhằm tuyên truyền những kiến thức khoa học về cách chăm sóc, nuôi dạy trẻ trong cha mẹ trẻ và các tổ chức xã hội, tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển toàn diện về các mặt thể chất, trí tuệ, tình cảm. Mặt khác hội thi " Bé vui cùng Ba mẹ và Cô giáo" còn nhằm phát hiện những tài năng, năng khiếu của trẻ. Từ đó làm chuyển biến về phong trào xã hội hóa giáo dục cũng như nhận thức của cha mẹ trẻ, nhân dân và cộng đồng, nhằm đưa chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ngày càng cao, đáp ứng với yêu cầu giáo dục trong thời kỳ đổi mới đi lên của đất nước.

Phần thi “Người nấu ăn giỏi” của Hội thi có Cô giáo, Ba mẹ và Bé cùng tham gia nấu ăn 03 món ăn: 02 món chính và 01 món tráng miệng, phù hợp dinh dưỡng cho bé thời gian 60 phút. Hội thi có sự tham dự của đông đảo cha mẹ trẻ, giáo viên và trẻ đến từ 07 lớp Nhỡ và Lớn. Ngoài ra có sự tham gia của đại diện lãnh đạo Hội phụ nữ phường, Ban đại diện cha mẹ trẻ nhà trường.

Thực đơn dinh dưỡng hấp dẫn của các Đội thi:

* Lớp mẫu giáo Nhỡ 1:

1/ Cơm hấp lá dứa với gà chiên sốt hạt điều

2/ Súp hoành thánh nhân tôm thịt .

3/ Tráng miệng: bánh plan .

* Lớp mẫu giáo Nhỡ 2:

1/ Cơm chiên Hải sản

2/ Mì quảng

3/ Tráng miệng: trái cây theo mùa.

* Lớp mẫu giáo Nhỡ 3:

1/ Chả thịt heo bọc trứng gà

2/ Bắp su bọc chả cá

3/ Tráng miệng : sữa chua nếp Cẩm

* Lớp mẫu giáo Lớn 1:

1/ Mì ý sốt thịt bò

2/ Sake chiên giòn

3/ Tráng miệng: rau câu

* Lớp mẫu giáo Lớn 2:

1/ Bò kho+bánh mì.                                     

2/ Mỳ ý.                                                        

3/ Rau cau cam, sữa hạt é.

* Lớp mẫu giáo Lớn 3:

1/ Cơm chiên trái thơm

2/ Canh bí ngòi cuộn tôm

3/ Bánh plan.

* Lớp mẫu giáo Lớn 4:

1/ Trứng cuộn rau củ

2/ Canh rau riêu cua

3/ Sữa chua trái cây

          8. Hiệu quả mang lại (Sau khi áp dụng các giải pháp nên trên, đã mang lai hiệu quả như sau …)

Sau khi áp dụng các biện pháp trên, kết quả tổ chức và nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cho trẻ tại trường có những chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả tốt nhất.

Sự đồng thuận và phối hợp giữa cha mẹ trẻ với nhà trường trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ tại trường chặt chẽ. Trong năm học nhà trường đã không để xảy ra ngộ độc thực phẩm nên được sự tin tưởng của cha mẹ trẻ khi cho trẻ ăn bán trú tại trường.

Thực đơn bữa ăn phong phú tăng kích thích cho trẻ ăn ngon miệng. Trẻ ăn thô tốt tăng dịch vị tiêu hóa thức ăn. Đặc biệt đối với trẻ biếng ăn không còn tình trạng cơm bị giữa khi cơm canh bị để lâu. Nhiều trẻ trước đây không thích ăn rau, các món xào thì giờ đã rất thích thú ăn hết phần ăn của mình.

Sức khỏe trẻ: Kết quả cân đo đợt 3 của năm học, kết quả phục hồi suy dinh dưỡng: Đầu năm học, toàn trường có 03 trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân, đến nay toàn trường không có trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân. Phục hồi 03 trẻ, tỷ lệ phục hồi 100%. Số trẻ thấp còi đầu năm học là 02 trẻ đến nay đã phục hồi được 01 trẻ, chiếm tỷ lệ phục hồi 50%.

Bên cạnh đó, đối với trẻ 4-5 tuổi thì mạnh dạn, tự tin, tự phục vụ bản thân và có thói quen văn minh trong ăn uống, biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. Đối với trẻ 3 tuổi, rèn được kĩ năng sử dụng khay, muỗng một cách thành thạo không cần nhờ đến sự giúp đỡ của cô giáo.

Giáo viên thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ vào trong tổ chức các hoạt động giáo dục hàng ngày thông qua dạy học trên lớp, mọi lúc mọi nơi đạt hiệu quả cao.

Nhân viên cấp dưỡng nắm chắc kiến thức về VSATTP, có nhiều hiểu biết về cách chế biến các món ăn đẹp, ngon, hấp dẫn và đảm bảo về dinh dưỡng.

        9. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến:

Đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng ra phạm vi huyện, thị xã, thành phố/sở/ ngành/tập đoàn/tổng công ty… theo chứng cứ đính kèm

Đã phục vụ rộng rãi cho tổ chức hoặc cá nhân trên địa bàn tỉnh, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng trên địa bàn tỉnh theo chứng cứ đính kèm

Đã phục vụ rộng rãi cho tổ chức hoặc cá nhân tại Việt Nam, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng tại nhiều tỉnh, thành theo chứng cứ đính kèm

Tôi/Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ỨNG DỤNG/CÁ NHÂN CÓ LIÊN QUAN

(Ký, đóng dấu và ghi rõ họ tên)

 



[1] Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến

[2] Tên của sáng kiến.

[3] Tên và địa chỉ của chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.

[4] Điện tử, viễn thông, tự động hóa, công nghệ thông tin ; Nông lâm ngư nghiệp và môi trường ; Cơ khí, xây dựng, giao thông vận tải ; Dịch vụ (ngân hàng, du lịch, giáo dục, y tế…) ; Khác…

[5] Ghi ngày nào sớm hơn