SKKN Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi trường mẫu giáo mạnh dạn, tự tin.
CỘNG HOÀ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
PHẠM VI ẢNH HƯỞNG,
HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Tên sáng
kiến: Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi trường mẫu giáo mạnh dạn,
tự tin.
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng
kiến:
3. Giấy chứng nhận/Quyết định công nhận sáng kiến số:
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
5. Thời điểm sáng kiến được áp dụng lần đầu: 15/10/2023
6. Thực trạng trước khi áp dụng sáng
kiến:
Mạnh dạn, tự tin là nguồn khích lệ lớn rất lớn đối với trẻ mầm non,
nhất là với trẻ 5-6 tuổi, là động lực để các trẻ cố gắng để đạt được mục đích,
mong muốn của mình. Trong thực tế, trẻ tại lớp tôi phụ trách có một số trẻ đi học
còn hay nhút nhát không muốn tham gia giao tiếp với các bạn, với cô giáo. Bố mẹ các trẻ than phiền vì trẻ ở
nhà ít giao tiếp với người lạ, không chịu giao tiếp ứng xử với người xung quanh. Vì vậy việc dạy trẻ mạnh dạn tự tin ngay từ nhỏ sẽ
là nền tảng để các trẻ trở thành những người mạnh dạn, tự tin. Vậy làm thế nào để trẻ mạnh dạn tự
tin khi tham gia giao tiếp với bạn bè và mọi người xung quanh? Để trẻ dám
làm điều mình nghĩ, bày tỏ cảm xúc của mình với người khác mà không e ngại?
Năm học này tôi được phân công dạy lớp
5 - 6 tuổi với tổng số 28 trẻ, qua tiếp xúc giao lưu chăm sóc trực tiếp với trẻ hằng ngày và
nhận thấy khả năng của trẻ lớp tôi phát triển không đồng đều, trẻ chưa mạnh dạn,
tự tin, có nhiều trẻ còn nhút nhát, rụt rè. Một số trẻ thiếu tự tin khi tham
gia các hoạt động của lớp, trường tổ chức. Ý thức của trẻ khi tham gia mọi hoạt
động cũng chưa cao, trẻ thiếu tự tin và thụ động trong giao tiếp, trong các
hoạt động, sự gần gũi và chia sẻ với cô, với bạn bè trong lớp còn ngại ngùng.
Đa số trẻ chưa tự tin thể hiện khả năng của bản thân và khả năng giao tiếp
trình bày ý kiến với người khác. Nhiều trẻ chưa có thói quen trong chào hỏi,
nói lời cảm ơn, xin lỗi khi giao tiếp.
Nắm rõ tình hình đó, để có biện pháp dạy phù hợp tôi
đã tiến hành một số khảo sát 28/28 và đã xây dựng các tiêu chí đánh giá kỹ năng hình thành sự mạnh dạn, tự tin cho trẻ 5 – 6 tuổi:
|
Bảng khảo sát
28 trẻ trước khi thực hiện biện pháp
|
|
STT
|
Nội dung khảo
sát
|
Thường xuyên
|
Thỉnh thoảng
|
Chưa có
|
|
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
%
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
%
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
%
|
|
|
1
|
Mạnh dạn tự tin thể hiện cảm xúc của bản thân
|
08/28
|
28,5%
|
10/28
|
35,7%
|
10/28
|
35,7%
|
|
|
2
|
Mạnh dạn tự tin giao tiếp với mọi người
|
07/28
|
25%
|
10/28
|
35,7%
|
11/28
|
39,2%
|
|
|
3
|
Chủ động, tích cực tham gia các hoạt động
|
06/28
|
21,4%
|
11/28
|
39,2%
|
11/28
|
39,2%
|
|
7. Nội dung sáng kiến:
Đối với trẻ 5 – 6 tuổi
rất cần có tính mạnh dạn, tự tin vì: Ở lứa tuổi này là tiền đề cho trẻ phát triển
nhân cách, giúp trẻ trở thành con người tự tin, năng động, sáng tạo và chủ động
trong cuộc sống, biết phân biệt rõ cái đúng cái sai. Hơn lúc nào hết chúng ta cần
hiểu rằng cho dù ở thời đại nào thì sự mạnh dạn, tự tin vẫn là điều cần thiết để
giúp con người vượt qua sự nhút nhát, gò bó mà thay vào đó sẽ là sự hoà đồng với
bạn bè và mọi người xung quanh. Trẻ học cách làm chủ bản thân, học cách nhận biết
và đối phó với cảm xúc của mình cũng như của người khác. Trẻ học cách xử sự sao
cho phù hợp với môi trường xung quanh. Trẻ 5 – 6 tuổi cần phải mạnh dạn, tự
tin, chủ động để chơi với nhau, sống hoà thuận với trẻ khác trong nhóm, tuy
nhiên điều này không dễ dàng đối với một số trẻ. Trẻ cần những kĩ năng quan hệ
xã hội như làm thế nào để mạnh dạn, tự tin với mọi người, để giao tiếp, để chọn
hành vi đúng đắn, sự mạnh dạn tự tin có thể được biếu hiện bằng những cử chỉ,
thái độ rất đơn giản và gần gũi trong cuộc sống, song lại giúp chúng ta phát hiện
được nhiều điều đáng quý của người khác để trân trọng và học tập. Do vậy tôi thấy cần phải có một số biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu
quả giáo dục sự mạnh dạn, tự tin cho trẻ như sau:
* Biện pháp 1: Xây dựng hình ảnh người giáo viên mầm non.
Để trẻ mạnh dạn, tự tin hơn
thì cô vừa là người mẹ vừa là nguời bạn hằng ngày luôn bên trẻ hiểu rõ được
tính cách của từng trẻ để cùng trò chuyện với trẻ, động viên và khích lệ trẻ,
hướng dấn dẫn trẻ làm những việc hằng ngày mà trẻ chưa làm được như: Mang dép
đúng chiều, mặc áo khoát, đeo khẩu trang, cài mũ bảo hiểm.
Xây dựng hình ảnh của giáo viên ở
đây theo tôi không chỉ ở trước mặt trẻ mà còn với cha mẹ
trẻ. Chắc hẳn ai cũng biết nghề giáo viên là nghề được ví với câu “làm dâu trăm
họ” mỗi cha mẹ trẻ gửi con đều có những mong muốn ở giáo viên khác nhau:
Có cha mẹ thì muốn cô nghiêm khắc, có cha mẹ chỉ mong cô chiều chuộng con mình
…. Để làm theo mỗi ý kiến thì rất khó vì vậy việc xây dựng hình ảnh của người giáo viên là rất quan trọng, nếu hình ảnh của cô trong mắt cha mẹ
tốt sẽ tạo sự tin tưởng cho cha mẹ trong cách chăm sóc giáo dục
con họ và sẽ tạo được sợi dây nối kết giữa cô giáo với cha mẹ giúp trẻ hình
thành tính tự tin. Quả đúng vậy, theo trao đổi với cha mẹ trẻ tôi được biết: ở nhà
trẻ luôn coi những gì cô thể hiện, cô nói là đúng, là nhất hơn cả bố mẹ của trẻ vì cô
là người điều khiển trong mọi hoạt động, trẻ luôn dõi theo những biểu hiện của
cô.
Ví dụ: Khi học chủ đề nghề
nghiệp, trẻ chơi phân vai: Đóng vai cô giáo.
Trẻ bắt chước giống cô của
mình từ cử chỉ đến những cách nói, cách đặt câu hỏi cô thường hỏi hằng ngày
trên giờ học.
Nắm được đặc điểm tâm lý trẻ
như vậy mọi lúc mọi nơi trong mọi thời điểm trẻ ở lớp, tôi đã luôn chú ý đến từng
lời nói, cử chỉ, hành động, cách cư xử tốt
nhất là việc đối xử công bằng với trẻ, trong mọi hoạt động luôn lấy trẻ làm
trung tâm, chú trọng những suy nghĩ cũng như cách thể hiện của trẻ.
* Biện pháp 2:
Nắm được đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi và trẻ cá biệt để rèn luyện tính mạnh
dạn, tự tin cho trẻ
Như chúng ta đã biết, trẻ 5 –
6 tuổi trẻ ý thức khá rõ ràng về những “quyền lợi” và “thế mạnh” của mình. Vì
thế trẻ dễ có những tình trạng như: hiếu động, nghịch ngợm, nhõng nhẽo, nhút
nhát.
Là giáo viên mầm non phải biết
đánh giá đúng về trẻ để có cách ứng xử phù hợp giúp trẻ phát triển một cách
toàn diện. Trong bất kì một hoạt động nào cô giáo phải luôn chú ý quan tâm đến
trẻ để kịp thời hướng dẫn, sửa sai những việc làm chưa đúng của trẻ. Cô giáo phải
biết khích lệ, động viên trẻ kịp thời trong khi trẻ hoạt động.
Để hiểu rõ hơn về tâm sinh lí
của trẻ thì trong mọi hoạt động, tôi luôn quan tâm, chú ý đến từng trẻ, và đặc
biệt hơn nữa chú ý đến những trẻ còn nhút nhát. Trong tất cả giờ hoạt động của
trẻ, tôi luôn quan sát và nhận xét xem trong quá trình học trẻ có hoạt động hay
không? Có tích cực hứng thú không? Tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao trẻ không
hoà đồng cùng các bạn để có hướng tìm cách giúp trẻ hoà nhập với bạn bè, cách
làm này của tôi đã giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều.
Ví dụ: Trong lớp tôi
có cháu Ánh Nguyệt, cháu này rất nhút nhát, hơi chậm trong mọi hoạt động, vốn từ
giao tiếp của cháu cũng rất hạn chế. Vì vậy mỗi khi trả lời câu hỏi của cô giáo
cháu chưa mạnh dạn, tự tin vì sợ cô và các bạn cười. Với những cháu nhút nhát
như Ánh Nguyệt thì tôi thường xuyên trò chuyện gần gũi, ân cần, nhẹ nhàng, thể
hiện sự quan tâm, yêu thương cháu, động viên, giúp đỡ khi cháu tham gia vào hoạt
động. Đầu tiên tôi cho cháu tham gia hoạt động nhóm với các bạn rồi sau đó tôi
khuyến khích cháu thực hiện độc lập. Mỗi lần cháu thực hiện như vậy luôn được
cô và các bạn khen, cổ vũ bằng nhiều hình thức như: tặng Ánh Nguyệt một tràng
pháo tay, hay cuối tuần được cô phát phiếu trẻ ngoan.
* Biện pháp 3:
Tạo môi trường lớp học thân thiện, cởi mở giúp trẻ thể hiện mình với cô giáo và
các bạn trong lớp
Với quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, tôi tận dụng tối
đa các sản phẩm của trẻ để trang trí lớp, trẻ được vẽ, xé, nặn các sản phẩm để
trang trí các góc, các buổi chơi trẻ được hoạt động với chính sản phẩm của mình
đã làm tăng thêm sự tự tin nơi trẻ. Những hoạt động giao tiếp qua vai chơi người
mua người bán dạy trẻ biết thể hiện thái độ ân cần, niềm nở với khách hàng
thông qua đó tạo được mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ khi chơi. Hình
thành kĩ năng giao tiếp, cách ứng xử trong xã hội, phát triển vốn hiểu biết, tạo
tiền đề về tính tự tin cho trẻ. Không chỉ tạo môi trường thân thiện cho trẻ hoạt
động, giao tiếp, tôi còn thống nhất mang đến cho trẻ một không khí lớp học ấm
áp tràn ngập yêu thương, cô giáo cũng giống như một người bạn để trẻ có thể bày
tỏ những thắc mắc, băn khoăn.
Bên cạnh đó, tôi cũng luôn nhắc nhở
trẻ những quy định trong lớp học và cách giao tiếp giữa trẻ với trẻ trong lớp.
Việc rèn nề nếp được thực hiện ngay khi đón trẻ vào năm học mới. Tôi luôn chỉ
trẻ cách lấy và để đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định, cách giao tiếp trong khi
chơi, không được ré, la hét quá to, không chạy nhảy, xô đẩy, sử dụng lời nói
phù hợp, các bạn trai phải biết nhường nhịn các bạn gái, tham gia vào vai chơi
vui vẻ, hào hứng, không tranh giành đồ chơi.
Ví dụ: Khi hai trẻ tranh giành đồ
chơi trong giờ hoạt động góc tôi luôn động viên trẻ nói rõ nguyên nhân để tạo sự
tự tin, mạnh dạn khi trẻ trình bày ý kiến của mình cho người khác hiểu. Cô hỏi
nguyên nhân không phải để trách phạt trẻ sai bằng những câu nói nặng nề mà tôi
đã giải thích giúp cả hai trẻ hiểu được việc làm của mình là chưa đúng, có việc
gì thì cứ mạnh dạn nói với cô và không nên làm như vậy. Tôi tạo cho trẻ luôn nhớ
và tin tưởng cô như một vị trọng tài để có lần sau trẻ sẽ chủ động mạnh dạn đến
tìm cô trình bày chứ không giành đồ chơi nữa.
* Biện pháp 4:
Dùng những lời nói khích lệ
Khi giáo viên xây dựng được hình ảnh tốt đẹp và luôn
là tấm gương trong trí nhớ của trẻ thì những lời khích lệ của giáo viên quả là
một biện pháp tốt để khuyến khích sự tự tin ở trẻ. Tôi thấy rằng với trẻ phải
thư ờng xuyên nói những lời khích lệ kịp thời bởi nếu không trẻ không biết khi
nào cô hài lòng với mình và bản thân khi được nghe những lời khen, trẻ sẽ luôn
nhớ từ đó sẽ tạo được sự tự tin của trẻ trong các công việc khác.
Ví dụ: Trong giờ hoạt động chiều, cô hướng dẫn trẻ sử
dụng màu nước, cô hỏi trẻ “Các con sẽ sử dụng những dụng cụ gì để tạo ra bức
tranh từ màu nước”, Bạn Minh Thư trả lời: “Con dùng cả bàn tay của mình để tạo
thành các hình con thích”, cả lớp phá lên cười vì nghĩ chỉ có bút lông mới dùng
để vẽ màu nước, còn dùng tay chỉ để nghịch và sẽ rất bẩn khiến bạn Thư rất buồn,
không tự tin giải thích nữa vì nghĩ là mình đã sai.
Với trường hợp này tôi đã hỏi luôn cách bạn Thư dùng
tay để sử dụng màu nước như thế nào, rồi khích lệ trẻ như sau: “Ý tưởng của bạn
Minh Thư rất hay đấy các con, bạn sẽ nhúng lòng bàn tay vào màu nước và in lên
giấy để tạo thành hình tùy ý và khi thực hiện xong bạn Thư sẽ lau tay vào khăn
là sẽ hết bẩn ngay. Tí nữa bạn Thư sẽ thể hiện ý tuởng của con cho cả lớp cùng
xem nhé”
Với lời khích lệ kịp thời của cô, bạn Minh Thư đã tự
tin tạo ra sản phẩm đẹp và sáng tạo. Còn với những sản phẩm tạo hình khác dù xấu
hay đẹp cũng đều được trưng bày hoặc dùng để trang trí lớp. Tôi luôn khen ngợi,
động viên vì trước hết trẻ có ý tưởng và biết thể hiện ý tưởng rồi mới gợi mở
thêm cách thể hiện ý tưởng trong những bài sau.
Những lời khích lệ luôn được các giáo viên trong lớp
chú ý sử dụng kịp thời trong các hoạt động trong ngày: Thể dục sáng, hoạt động
học, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều và cả trong hoạt động
đón trả trẻ.
Ví dụ trong giờ hoạt trả trẻ:
Ngay cả khi trẻ hoàn thành xong một việc rất nhỏ như uống hộp sữa một cách
nhanh chóng, tôi cũng không tiếc lời khen trẻ trước cha mẹ. Và qua những lời
khích lệ kịp thời dù là từ những việc nhỏ cũng đã phần nào xây dựng được sự tự
tin trong trẻ. Và tôi nhận thấy rằng lòng tự tin của trẻ em thực chất là được
xây trên những hành động thực tế, được mọi người thích thú và chấp nhận.
* Biện pháp 5:
Thường xuyên giao nhiệm vụ vừa sức cho trẻ để trẻ có sự thành công
Trong cuộc đời mỗi con người ai cũng
mong muốn mình thành công. Người lớn chúng ta thì mong muốn thành công trong
công việc, cuộc sống…trẻ nhỏ cũng vậy chúng cũng rất thích thành công, chiến thắng
dù chỉ là những điều nhỏ trẻ. Bởi thành công luôn đi đôi với tự tin. Có tự tin
thì mới có thành công và chính thành công lại củng cố thêm cho lòng tự tin của
con người.
Theo kinh nghiệm nhiều năm phụ trách
giảng giảng dạy các trẻ 5-6 tuổi tôi nhận thấy rằng khi trẻ làm tốt một việc
nào đó cô giao dù rất nhỏ nhưng trẻ đều rất vui sướng và hạnh phúc, tôi thấy trẻ
vui vẻ hơn, phấn khởi hơn và từ đó tự tin hơn. Nắm bắt được tâm lý này ở trẻ
tôi tiếp tục quan sát và thấy với những trẻ nhanh nhẹn, thông minh, tự tin thì
để đạt được những thành công đó là rất dễ dàng. Còn với những trẻ nhút nhát,
thiếu tự tin để thể hiện những suy nghĩ và hành động của mình thì rất khó hoặc
rất chậm. Đây là vấn đề khiến bản thân tôi luôn trăn trở bởi khi trẻ liên tục
không thực hiện được nhiệm vụ cô đề ra trong giờ học, cũng như các hoạt động
khác trẻ sẽ không thể có sự tự tin trước đám đông bởi vậy nên tôi đã đưa ra biện
pháp giao nhiệm vụ vừa sức để trẻ có đựơc sự thành công như:
Ví dụ: Trong các hoạt động học tôi mời
trẻ tự lấy và cất dồ dùng của mình. Khi đặt các câu hỏi dễ tôi ưu tiên mời
những cháu nhút nhát hơn trả lời để trẻ trả lời đúng, từ đó trẻ phấn khởi hơn
và dần dần tự tin hơn.
Bên cạnh đó trong các hoạt động khác
tôi cũng thường xuyên giao nhiệm vụ vừa sức cho trẻ để trẻ có thể hoàn thành
nhiệm vụ của mình, giúp trẻ tự tin hơn như:
Ví dụ: Trong giờ ăn tôi nhờ các bạn
khoẻ mạnh, nhanh nhẹn kê bàn ghế, còn các bạn yếu hơn, nhỏ hơn thì giúp cô gấp
khăn lau hoặc phơi khăn lên giá sau khi cô giặt khăn xong. Trong giờ lao động vệ
sinh tôi nhờ các bạn nữ khéo léo lau đồ chơi còn các bạn nam nhanh nhẹn thì xếp
đồ chơi vào các góc..
Với việc giao cho trẻ những việc vừa
sức để trẻ hoàn thành được công việc được giao đã kích thích được sự tự tin vào
bản thân của trẻ để hoàn thành công việc đến cùng. Qua các buổi trực nhật tôi
thấy trẻ tham gia với không khí rất phấn khởi, vui vẻ, hồ hởi.
Qua những nhiệm vụ vừa sức tôi giao
cho các con thực hiện, sau một thời gian tôi nhận thấy số trẻ nhút nhát đã dần
tự tin hơn. Trong các giờ học trẻ đã dần mạnh dạn nhận những yêu cầu cô giao.
* Biện pháp 6: Phối hợp - kết
hợp với cha mẹ trẻ
Có một số cha mẹ trẻ khi gởi con đến trường mẫu giáo
là họ giao hẳn trọng trách giáo dục trẻ cho cô giáo và nhà trường mà quên rằng
vai trò của cha mẹ là vô cùng quan trọng trong việc phối hợp với nhà trường
giáo dục con trẻ bởi “cha mẹ là những người thầy đầu tiên của trẻ”, ngay cả khi
giao trẻ cho cô giáo, vai trò của cha mẹ cũng không hề mờ nhạt đi. Cha mẹ cần
đi cùng con suốt quãng đường đời và những năm tháng tuổi thơ sẽ tạo nên một nền
tảng vững chắc cho trẻ khi trưởng thành.
Nắm được phương pháp giáo dục, cha mẹ sẽ hiểu rõ những
hoạt động của trẻ ở lớp và có thể tham gia đánh giá sự phát triển của trẻ thông
qua Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi. Gia đình và nhà trường cần là người bạn đồng
hành cùng chí hướng thì việc chăm sóc giáo dục trẻ mới hiệu quả. Và quan trọng
hơn là cha mẹ có điều kiện tiếp xúc với môi trường học tập, sinh hoạt của trẻ,
có điều kiện gần gũi với cô giáo từ đó tạo sợi dây liên kết giữa nhà trường và
gia đình, giúp trẻ được sống trong môi trường giáo dục tốt.
Xác định được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cha
mẹ trẻ và nhà trường ngay từ đầu năm khi đón trẻ vào lớp, tôi luôn tiếp xúc với
cha mẹ trẻ với một thái độ thân thiện, mạnh dạn trao đổi cụ thể với cha mẹ trẻ
về chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường, năm bắt kịp thời những thông tin về đặc điểm tâm lí, tính cách
của cá nhân trẻ.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng thường xuyên liên lạc với
gia đình trẻ thông qua việc trao đổi trực tiếp, qua kênh zalo của lớp để tìm hiểu
sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho cha mẹ trẻ biết tình hình của trẻ ở
lớp, những thay đổi của trẻ để kịp thời có biện pháp giáo dục phù hợp.
Ví dụ: Trong cuộc họp cha mẹ trẻ đầu năm, tôi đã đánh
giá sơ bộ về tình hình của lớp, kèm theo đó tôi còn trao đổi với cha mẹ trẻ những
kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ, dạy trẻ tính mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
với mọi người. Bằng những kinh nghiệm vốn có của bản thân trong việc nuôi dưỡng,
chăm sóc giáo dục trẻ, tôi đã giải đáp những thắc mắc của cha mẹ trẻ và đưa ra
mục tiêu “Dạy trẻ tính mạnh dạn, tự tin” và được sự ủng hộ nhiệt tình của cha mẹ
trẻ.
8. Hiệu quả mang lại:
Sau khi áp dụng
các biện pháp trên, tôi hy vọng kết quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp tôi
có những chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả tốt nhất.
Bảng tổng hợp
so sánh, đối chiếu kết quả sau khi áp dụng biện pháp
![]()
* Đối với trẻ:
Với sự nhiệt tình của giáo viên, sáng tạo
trong phương pháp giảng dạy và với phương châm “lấy trẻ làm trung tâm” chúng
tôi đã giúp trẻ:
+ Tự tin, sôi nổi: Trong các giờ học tất
cả các cánh tay giơ lên sau khi cô đặt câu hỏi.
+ Hồn nhiên linh hoạt, mạnh dạn,
thông minh và thích đến trường. Đó là điều mà cha mẹ thật an tâm khi giao con
cho giáo viên, cho nhà trường.
+ Trẻ mạnh dạn,
tự tin hơn trong các hoạt động cũng như trong giao tiếp.
* Đối với giáo
viên:
+ Qua thực hiện những giải pháp nêu trên bản thân tôi đã rút ra được nhiều
kinh nghiệm để có thể vận dụng thực hiện vào những năm tiếp theo và giáo dục sự
tự tin cho trẻ một cách tốt nhất.
+ Được BGH, đồng nghiệp, cha mẹ trẻ yêu quý tin tưởng và ủng hộ.
* Đối
với nhà trường và cha mẹ trẻ:
+ Cha mẹ rất phấn khởi, vui mừng khi thấy
con mình không còn nhút nhát mà thay vào đó là sự tự tin được thể hiện ngay
trong giao tiếp với mọi người xung quanh .
9.
Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến:
□ Đã được chuyển giao, nhân
rộng việc áp dụng ra phạm vi huyện, thị xã, thành phố/sở/ ngành/tập đoàn/tổng
công ty… theo chứng cứ đính kèm
□ Đã phục vụ rộng rãi cho tổ chức hoặc cá nhân trên địa bàn tỉnh,
hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng trên địa bàn tỉnh theo chứng cứ
đính kèm
□ Đã phục vụ rộng rãi cho
tổ chức hoặc cá nhân tại Việt Nam, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp
dụng tại nhiều tỉnh, thành theo chứng cứ đính kèm
Tôi/Chúng
tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu
trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ỨNG DỤNG/CÁ NHÂN CÓ LIÊN
QUAN
(Ký,
đóng dấu và ghi rõ họ tên)