SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
PHẠM VI ẢNH
HƯỞNG, HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Tên sáng
kiến: Một
số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng
kiến:
3. Giấy
chứng nhận/Quyết định công nhận sáng kiến số:
4. Lĩnh
vực áp dụng sáng kiến:
Giáo dục
5.
Thời điểm sáng kiến được áp dụng lần
đầu: 15/10/2023
6. Thực trạng
trước khi áp dụng sáng kiến:
Như chúng ta đã biết, giáo dục kỹ
năng sống là một nội dung quan trọng và cần thiết cho trẻ trong xã hội hiện
nay, nhằm góp phần giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách, cung
cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năng cần thiết để trẻ bước vào đời. Giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ là rèn cho trẻ có được những hành vi lành mạnh, giúp trẻ
làm chủ bản thân, thích nghi, học tập hiệu quả, nâng cao sức khỏe, tinh thần và
thể chất, biết được những điều nên làm và không nên làm, biến những kiến thức
về kỹ năng thành hành động cụ thể, ứng phó tích cực các tình huống trong cuộc
sống, đặc biệt là đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non.
Giáo dục kỹ năng sống là một nội
dung quan trọng, đặc biệt là đối với trẻ mầm non. Giáo dục kỹ năng sống trên
thực tế của lớp tôi, tôi thấy trẻ chưa mạnh dạn, tự tin, khả năng tự phục vụ
chưa cao. “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”. Chúng ta cần phải rèn
kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ và bắt đầu từ việc nhỏ nhất, đây là cơ
hội tốt nhất giúp trẻ nhanh chóng khôn lớn và trưởng thành trong cuộc sống, trẻ
sống có trách nhiệm hơn với chính mình. Nhưng trong thực tế hiện nay, nhiều gia
đình không để cho trẻ phải làm gì cả, ngoài việc học tập và vui chơi. Do đó,
việc rèn cho trẻ kỹ năng sống cho trẻ trong trường mẫu giáo là việc làm vô cùng
cần thiết.
Đó cũng là điều mà tôi luôn trăn trở và
đặt ra câu hỏi làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi có hiệu
quả và giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất về mọi mặt. Từ thực tế trên
tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cần thiết cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi”.
7. Nội dung sáng kiến:
Bồi dưỡng kỹ năng sống và những thói quen tốt cho
trẻ mầm non không phải là việc làm trong một sớm một chiều, mà là cả một quá
trình. Phải chọn đúng thời điểm thích hợp, đồng thời giáo viên và cha mẹ trẻ phải
có sự phối hợp chặt chẽ để sau này khi lớn lên trẻ có thể tự tin bước vào cuộc
sống, mà gần nhất là để trẻ làm hành trang chuẩn bị bước vào lớp Một. Bản thân
là một giáo viên hiện đang dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi, nắm được những đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ cũng như tâm lý của cha mẹ trẻ, từ đó tôi đã nghiên cứu
và đưa ra một số biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ như sau:
* Giải
pháp 1: Xây dựng môi trường “Lấy trẻ
làm trung tâm”
Nếu như ở các trường phổ thông, môi trường lớp
học là bàn, ghế, phấn, bảng, dụng cụ học tập, thầy cô, bè bạn với không khí lớp
học trang nghiêm và mối quan hệ rạch ròi giữa học sinh và thầy cô giáo, thì ở trường mầm non với môi trường lớp học sẽ được trang trí bắt mắt để lôi
cuốn và tạo hứng thú cho trẻ, đồ dùng đồ chơi đa dạng. Hơn nữa, không khí trong lớp học hay sự giao tiếp giữa cô và trẻ cũng vui vẻ, gần gũi hơn như gia đình. Dù vậy, để thực hiện điều đó là một việc không hề dễ dàng. Vì vậy, xây dựng
môi trường giáo dục trong trường mầm non phải đảm bảo để trẻ được tìm tòi, khám
phá những điều mới lạ, lôi cuốn, hấp dẫn, trẻ được trải nghiệm theo khả năng
mình, qua đó nhằm giúp trẻ phát triển về 05 lĩnh vực và kỹ năng xã hội cần thiết.
Đặc biệt là cách xây dựng môi trường giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm, môi trường đó phải đảm bảo an toàn về cả vật
chất và tinh thần cho trẻ vừa có tác dụng giáo dục, có
tính thẩm mỹ và phải được xây dựng trong suốt quá trình thực hiện chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ, điều này cũng chính là mục đích của chủ đề chính
trong năm học này “Xây dựng trường học hạnh phúc, lấy trẻ làm trung tâm”.
Như chúng ta đã biết ở lứa tuổi mầm non, hoạt động vui
chơi là hoạt động chủ đạo, để xây dựng một hoạt động mà trẻ vừa được chơi, vừa
được học, được tìm tòi, được khám phá, phát huy sáng tạo, tư duy thì tôi đã
nghiên cứu và đưa ra những hình thức tổ chức hoạt động với mục đích “Lấy trẻ
làm trung tâm” như sau:
* Với môi trường vật chất:
Đối
với môi trường trong lớp học: Lớp học là nơi mà trẻ được
tiếp xúc hàng ngày để có tác động tích cực kỹ năng sống vào trẻ, nên tôi sắp xếp
trang trí lớp sao cho phù hợp, đẹp mắt, hấp dẫn lôi cuốn trẻ, làm những đồ dùng
đồ chơi gần gũi quen thuộc, sắp xếp gọn gàng trên giá, vừa tầm tay của trẻ, đồ
chơi phù hợp với chủ đề và mục đích góc chơi, có khả năng kích thích các giác
quan của trẻ. Thông qua việc sắp xếp tạo môi trường trong lớp góp phần rèn cho
trẻ tự tin, tự lực bằng cách tự làm một số việc đơn giản hằng ngày. Tôi luôn lựa chọn đồ dùng có tính thẩm mỹ, màu sắc phù hợp
trẻ hứng thú, mạnh dạn tham gia vào các hoạt
động cùng cô và các bạn, trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, tạo sự gần gũi giữa cô
với trẻ, tạo tâm thế thoải mái cho trẻ khi bước vào hoạt động, giúp trẻ
tích cực,
tự tin thể hiện mình hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức và giúp cho trẻ có
cơ hội học tập, tìm tòi khám phá, thể hiện được hết khả năng vốn có của mình
thông qua tất cả các hoạt động.
Đối với môi trường ngoài lớp học: Đến với môi trường
ngoài lớp học trẻ được cùng nhau vui chơi, cùng nhau khám phá mọi lúc, mọi nơi
từ đó giúp trẻ tích lũy các kỹ năng và phát triển các kỹ năng giao tiếp, ứng xử,
kỹ năng hoạt động nhóm từ đó hình thành và phát triển nhân cách sau này cho trẻ.
Vì vậy, việc xây dựng môi trường ngoài lớp học phải đảm bảo tính an toàn, đồ
chơi ngoài trời đa dạng, phong phú nhằm giúp trẻ được thoả sức vui chơi, khám
phá, trẻ được hoà mình, trải nghiệm. Qua đó, giúp trẻ phát triển về thể chất đảm
bảo mục tiêu giáo dục đã đề ra.
* Với môi trường tinh thần:
Đối với
trường mầm non thì phương châm “trường là nhà, cô là mẹ” luôn được áp dụng mọi
lúc mọi nơi. Vì vậy, tạo môi trường mẫu mực xung quanh trẻ là rất cần thiết, phải
có môi trường sư phạm, giáo viên phải luôn gương mẫu về mọi mặt, nhất là trước
mặt trẻ như: ăn mặc, cử chỉ, lời nói, tác phong phải nhẹ nhàng đúng mực để trẻ
noi theo.
Ví dụ:
Khi giáo viên nói chuyện với nhau mà dùng những từ không hay khi giáo viên nói
chuyện với nhau hoặc hay quát mắng, to tiếng thì trẻ cũng sẽ bắt chước những lời
không hay đó hoặc quát mắng bạn như vậy. Ngược lại, nếu cô nói chuyện nhỏ nhẹ,
dùng lời hay ý đẹp thì trẻ cũng sẽ học theo cô để giao tiếp với bạn. Thông qua
đó để hình thành nên hành vi và quy tắc ứng xử xã hội.
Hơn nữa,
để tạo sự thân thiện với trẻ, cô vừa là cô vừa đóng vai là người mẹ luôn ở bên
trẻ những lúc trẻ cần, vừa đóng vai người bạn để cùng chơi với trẻ. Vào đầu năm
học, để tạo sự gần gũi, vào những buổi đón trẻ tôi thường cùng trò chuyện với
trẻ, hỏi thăm trẻ hôm nay cảm thấy thế nào, tham gia cùng chơi với trẻ một số
trò chơi tập thể, cho trẻ chơi tự do. Qua đó, nắm bắt tâm lý, đặc điểm tính
cách của từng trẻ xem trẻ mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động hay tích cực, thích
thể hiện hay không thích và tiếp túc qua các lần sau, chú ý quan sát những cử
chỉ, hành vi của trẻ để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp. Việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi, bất cứ hoạt động nào cũng có thể lồng
ghép được.
Có thể nói, việc
xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là thực sự có ý nghĩa hết sức
cần thiết và rất quan trọng. Thông qua các hoạt động, nhân cách của trẻ được
hình thành và phát triển toàn diện. Môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí
khu vực chơi và học trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện có ý nghĩa to lớn
không chỉ đối với sự phát triển của trẻ mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng
hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động sáng tạo. Trẻ được hoạt động trong
môi trường thân thiện, an toàn với các góc chơi, đồ dùng tự tạo đẹp, mới lạ làm
cho trẻ hào hứng tích cực tham gia các hoạt động, nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
* Giải pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống qua các hoạt động trong ngày
Đối với trẻ mầm non, rèn kỹ năng
sống cho trẻ là rèn kỹ năng ứng xử các tình huống trong cuộc sống, kỹ năng hoạt
động theo nhóm, ý thức bảo vệ sức khỏe, phòng chống tai nạn, rèn kỹ năng ứng xử
văn hóa. Trong khi đó, trẻ mẫu giáo kinh nghiệm sống chưa có, cũng như trẻ 5 -
6 tuổi việc phòng chống tai nạn, xử lý tình huống còn gặp nhiều khó khăn, trẻ
ngây thơ chưa nhận biết được các mối nguy hiểm. Chính vì thế, việc giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ phải rèn luyện mọi lúc mọi nơi, trong tất cả hoạt động trong
ngày.
* Giáo dục kỹ năng sống thông qua
giờ đón trả trẻ: Phần lớn bố mẹ
của các cháu làm nông, công nhân nên rất bận rộn, từ đó cha mẹ trẻ ít có thời
gian để quan tâm đến con em mình. Bên cạnh đó, một số gia đình ít con cho nên
được bố mẹ nuông chiều quá, một số cha mẹ trẻ chưa hiểu được tầm quan trọng của
của việc dạy “kỹ năng sống cho trẻ”. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự
do, hay nói leo, trả lời câu cụt, ra vào lớp tự nhiên không xin phép cô.
Ví dụ: Qua giờ đón trả trẻ tôi
thường nhắc nhở trẻ phải chào cô, ba mẹ, ông bà khi vào lớp và khi ra về, khi
chào phải nói rõ ràng rành mạch, đầy đủ câu; giáo dục trẻ biết tự cất đồ cùng
cá nhân vào tủ, biết xếp giày dép ngay ngắn.
* Giáo dục kỹ năng sống thông qua
hoạt động học: Với giải pháp
này, tôi đã lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động
học có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn
hóa.
Ví dụ: Qua hoạt động học khám phá
khoa học “Sự kỳ diệu của nước”, cô đàm thoại đặt ra những câu hỏi: “Nước có từ
đâu?”, “Nước quan trọng với chúng ta như thế nào?”, “Nếu không có nước sẽ như
thế nào?”, “Để bảo vệ nguồn nước chúng ta phải làm gì?”. Từ đó, cô giáo dục trẻ
phải biết bảo vệ nguồn nước sạch, không vứt rác bừa bãi xuống ao hồ sông suối,
không được lãng phí nước. Thông qua hệ thống câu hỏi mà tôi đã đặt ra để xem
trẻ sẽ giải quyết vấn đề như thế nào? Từ đó tôi giáo dục cho trẻ kỹ năng thể
hiện cảm xúc, tình cảm với con người và sự vật hiện tượng xung quanh.
Ví dụ: Qua hoạt động làm quen văn học như câu chuyện “Ba cô gái”
Cô đàm thoại cùng trẻ:
Qua câu chuyện con thích ai nhất? Vì sao con thích? Nếu con là cô chị cả (chị
Hai, chị Út) thì con sẽ làm gì? Khi mẹ con bị ốm, con sẽ làm gì? Thông qua câu chuyện, tôi giáo dục
cho trẻ biết yêu quý mẹ của mình hơn.
Bên cạnh đó, tôi tổ chức
cho trẻ đóng kịch, trẻ sẽ được hoá thân vào vai các nhân vật có trong câu
chuyện. Thông qua việc đóng kịch, sẽ rèn luyện cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin và
cách biểu lộ cảm xúc vui, buồn, sợ hãi, tức giận.
Thông qua hoạt động giáo
dục âm nhạc kích thích trẻ bộc lộ những suy nghĩ tình cảm, khả năng tưởng tượng
và tính sáng tạo của mình. Ví dụ: Tiết dạy vận động “Cô giáo miền xuôi”, trẻ
không tự tin và nói không múa được, thì cô sẽ động viên trẻ “Con thể hiện tình
yêu với cô giáo của mình như thế nào?”, “Vậy thì con hãy múa tặng cho cô giáo
của mình!”. Từ những lời động viên khích lệ đó, trẻ sẽ hứng thú hơn và tự tin
hơn trong hoạt động.
*
Giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động góc:
Chơi và hoạt động ở các góc không chỉ nhằm tạo
ra sản phẩm mà còn để thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ. Trẻ được tham gia các
hoạt động trải nghiệm và chơi theo nhu cầu hứng thú của trẻ, trẻ tự nguyện chơi
sau khi đã chọn góc chơi: Trẻ chơi theo sự gợi mở và hướng dẫn của cô khi tham
gia vào trò chơi. Trẻ chơi chủ yếu do nhu cầu và khả năng của trẻ, nhu cầu muốn
bắt chước, muốn làm người lớn…Bên cạnh đó, mặc dù hoạt động ở các góc chơi là
hoạt động của trẻ nhưng vẫn cần có sự định hướng gợi ý, hướng dẫn của cô giáo.
Cô giáo đóng vai trò là người bạn lớn của trẻ trong suốt quá trình trẻ chơi, từ
đó sẽ giúp trẻ hình thành những kỹ năng cần thiết.
Ví dụ: Hoạt động góc chơi phân vai, bán
hàng: Trẻ được tự do thảo luận, tự nhận vai chơi cô cấp dưỡng, người bán hàng,
người đi mua hàng. Khi muốn đổi vai chơi, trẻ cũng sẽ tự trao đổi ý kiến cùng
nhau mà không cần sự can thiệp của cô. Khi trẻ chơi, cô bao quát, quan sát trẻ,
động viên, hướng dẫn những trẻ còn nhút nhát. Cô cũng có thể nhập vai chơi cùng
trẻ để hướng dẫn trẻ chơi sáng tạo hơn.
Ví dụ: Cô nhập vai người mua hàng: “Chào
cô! Bán cho tôi một bông hoa”, “Bao nhiêu vậy cô?”, “Cho tôi xin, tôi cám ơn!”.
Trẻ thấy cô làm như vậy trẻ sẽ bắt chước cách mua hàng giống cô để giáo dục trẻ
biết lễ phép, phải biết cách xưng hô. Trong giờ chơi luôn giáo dục trẻ chơi
ngoan, cất dọn đồ chơi gọn gàng ngăn nắp.
* Giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động vui chơi: Các bậc cha
mẹ thường đề cao tầm quan trọng của việc học tập đối với sự khôn lớn của trẻ.
Với trẻ em, học tập có ý nghĩa to lớn trong việc trang bị những kiến thức và
hiểu biết căn bản. Nhưng bên cạnh hoạt động học tập, hoạt động vui chơi cũng
đóng một vai trò không nhỏ trong sự phát triển nhân cách và kỹ năng sống của
trẻ em. Vì vậy, tôi đã tiến hành lồng ghép giáo dục “kỹ năng sống cho trẻ” vào
hoạt động vui chơi, qua đó trẻ được đối thoại những câu chào hỏi lễ phép, câu
cảm ơn, xin lỗi, trao nhận bằng hai tay, tôi theo dõi quan sát lắng nghe để kịp
thời uốn nắn trẻ khi có biểu hiện chưa chuẩn mực. Qua đó giúp trẻ hình thành
thói quen hành vi văn minh trong giao tiếp.
Ví dụ: Qua trò chơi phân vai, trẻ nhập vào các vai chơi một cách
hứng thú và hiệu quả. Qua hoạt động vui chơi cháu mạnh dạn hơn, thành thạo dần
trong giao tiếp, trong ứng xử, chào hỏi đối với mọi người xung quanh mình.
Trong khi chơi trẻ không nói những câu cụt. Trẻ biết nói và trả lời đầy đủ câu,
biết xưng hô chuẩn mực.
Ví dụ: Khi dạo chơi sân trường, tôi
cho trẻ ngắm nhìn vẻ đẹp của hoa, trẻ sẽ thể hiện cảm xúc vui vẻ, thoải mái, từ
đó trẻ sẽ yêu thích cái đẹp, không được hái hoa vì hoa làm đẹo cho thiên nhiên.
Tôi tận dụng nhiều tình huống trong lúc dạo chơi như “cơn gió làm lá rơi xuống
sân”, sân trường không còn sạch đẹp, vậy làm thế nào để sân trường trở nên sạch
đẹp hơn? (Nhặt lá cây rơi, nhặt rác bỏ vào thùng rác)…Hình thành được kỹ năng
ứng xử văn minh cho trẻ, không những ở trường mà trẻ sẽ thực hiện được việc giữ
vệ sinh ở mọi lúc mọi nơi như ở nhà, ở lớp, ở nơi công cộng.
* Giáo dục kỹ năng sống mọi lúc,
mọi nơi: Giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ cần được tiến hành thường xuyên, thông qua các hoạt động khác nhau và
mọi lúc, mọi nơi ở trường mầm non một cách nhẹ nhàng, linh hoạt, sáng tạo,
không gò bó, áp đặt trẻ, không làm ảnh hưởng tới nội dung chính của hoạt động
giáo dục khác.
Ví dụ: Giờ đón trả trẻ, cô giáo dục
trẻ phải biết chào ba mẹ, chào cô khi đến lớp và khi ra về, hướng dẫn trẻ biết
cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định. Trong giờ ăn, tôi giáo dục trẻ những
thao tác văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ những kỹ năng tự phục vụ, rèn
tính tự lập như tự đi lấy bát thìa, biết tự lên lấy cơm, khi ăn biết ăn uống
lịch sự, không nói chuyện trong khi ăn, biết ăn hết suất, không làm rơi vãi khi
ăn, biết mời cô mời bạn trước khi ăn, khi ăn xong tự đem tô bỏ vào rổ, lau bàn,
xếp bàn xếp ghế. Trong hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ tham quan vườn rau của
trường, giáo dục trẻ chăm sóc rau và những lợi ích từ rau, giáo dục trẻ biết
kính trọng, yêu quý những người nông dân.
* Giải pháp 3: Bồi dưỡng kinh nghiệm, hình thành nhân cách sống cho trẻ
qua những câu chuyện, ca dao, tục ngữ
Được nghe kể chuyện, với trẻ là điều
vô cùng thích thú. Những câu chuyện hay, có ý nghĩa chuyển tải những thông điệp
có giá trị, giúp trẻ có được những kỹ năng sống quý báu. Tôi luôn lựa chọn
những tác phẩm có giá trị, phù hợp với nhận thức của trẻ để kể cho trẻ nghe.
Các bài ca dao, tục ngữ cũng là nguồn giá trị để cho trẻ nghe thường xuyên.
Ví dụ: Khi kể cho trẻ nghe câu
chuyện “Chú Vịt xám” tôi đã giúp trẻ hiểu được vì Vịt xám không nghe lời mẹ nên
suýt bị Cáo ăn thịt, đồng thời thông qua đó để giáo dục trẻ biết, khi được cha
mẹ cho đi chơi thì các con phải biết vâng lời cha mẹ, không được tự ý đi một
mình sẽ rất nguy hiểm.
Ví dụ: Khi kể cho trẻ nghe câu
chuyện “Chú Thỏ tinh khôn”, tôi đã giúp trẻ hiểu được nhờ sự thông minh nhanh
trí mà chú Thỏ đã thoát ra khỏi miệng Cá Sấu. Thông qua đó cũng giáo dục cho
trẻ khi gặp những vấn đề nguy hiểm cần phải biết bình tĩnh, không sợ sệt và cần
phải thông minh, nhanh trí để giải quyết vấn đề.
Ví dụ: Qua câu chuyện “Cáo, Thỏ và
Gà Trống”, tôi dạy trẻ học tập bạn Gà Trống tính mạnh dạn, tự tin. Tuy nhỏ bé
nhưng Gà Trống đã biết dùng trí thông minh của mình để đuổi Cáo ra khỏi nhà.
Ví dụ: Câu chuyện “Tích Chu”, tôi
dạy trẻ kỹ năng luôn quan tâm giúp đỡ mọi người, đặc biệt là người thân trong
gia đình học tập bạn Tích Chu không quản ngại khó khăn đi tìm nước suối về cho
bà uống.
Ví dụ: Chuyện “Thỏ và Rùa” giúp trẻ
có một số kỹ năng sống như kỹ năng tự tin: Tuy chậm chạp nhưng Rùa vẫn tự tin
chạy thắng Thỏ, cả Thỏ và Rùa đều không hề đầu hàng hay nản trí sau thất bại.
Thỏ quyết tâm làm việc hăng hái hơn và cố gắng nhiều hơn nữa sau khi thất bại.
Câu chuyện khuyên các bạn nhỏ luôn cố gắng hoàn thành công việc nhanh hơn thể
hiện qua đợt thi đấu lần thứ 3 giữa Rùa và Thỏ.
Câu chuyện “Một chuyến tham quan”
khuyên trẻ biết nhường nhịn chỗ ngồi, chào hỏi lễ phép với mọi người.
Bài thơ “Làm anh”, “Giữa vòng gió
thơm”, “Gió từ tay mẹ” giúp trẻ có kỹ năng ứng xử phù hợp với những người xung
quanh, biết nhường nhịn em nhỏ, quan tâm đến người thân, yêu thương ông bà, cha
mẹ.
Bài thơ “Buổi đi chơi của bé” giúp
trẻ biết một số quy tắc nơi công cộng, không la to, không chen lấn xô đẩy bạn,
biết xếp thẳng hàng.
Các bài ca dao, tục ngữ cũng là
nguồn giá trị sâu sắc cho trẻ về công cha, nghĩa mẹ, đạo con, hay tình anh em
máu mủ… Như vậy, thông qua nội dung trẻ được nghe, được đọc cùng với sự giảng
giải của cô, trẻ sẽ thấm dần ý nghĩa của chúng, từ đó tích lũy cho mình những
bài học kinh nghiệm trong cuộc sống.
* Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin đưa vào các chủ đề giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ
Để dạy tốt kỹ năng sống cho trẻ, tôi
đã xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua việc ứng dụng công
nghệ thông tin. Tôi tìm tòi các đoạn phim, video phù hợp để đưa vào các chủ đề
nhằm hình thành kỹ năng sống cho trẻ một cách tốt nhất.
Ở chủ đề “Trường mầm non”, tôi đã
lựa chọn kỹ năng giao tiếp như: Chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, lễ phép
với người lớn, tôn trọng bạn bè, vui vẻ thân thiện, lắng nghe ý kiến, chia sẻ
thông tin, hòa thuận với các bạn, giúp đỡ bạn khi cần thiết, hoàn thành công
việc cùng bạn.
Ở chủ đề “Bản thân”, để trẻ biết
được cách chăm sóc bản thân và các kỹ năng tự phục vụ thì tôi đã cho trẻ xem
một đoạn video, từ đó trẻ sẽ hiểu rõ hơn về bản thân, cách vệ sinh, cách mặc
quần áo và các khả năng tự phục vụ khác.
Ở chủ đề “Gia đình”, tôi cho trẻ xem
một đoạn phim nói về tình cảm của các thành viên trong gia đình. Biết lễ phép
với người lớn, biết yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, các kỹ năng
tốt sẽ được hình thành ở trẻ.
Ở chủ đề “Nghề nghiệp”, tôi lồng
ghép hình ảnh chú bộ đội vào các hoạt động để giúp trẻ biết công lao to lớn của
các chú bộ đội, từ đó trẻ biết yêu thương các chú bộ đội và luôn dành những
tình cảm tốt đẹp nhất cho các chú…
Ngoài ra, tôi đã tìm tòi và đưa các
chương trình trên tivi như “Qùa tặng cuộc sống” vào cho trẻ xem để hình thành ở
trẻ những kỹ năng sống cần thiết.
Trẻ hứng thú hơn khi trực tiếp xem
các đoạn video, phim bởi các hình ảnh đẹp, sống động, kích thích sự tò mò, khám
phá của trẻ, trẻ cùng nhau chia sẻ, tìm tòi lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm quý
báu hơn. Từ đó, các kỹ năng sống sẽ được khắc sâu hơn cho trẻ.
* Giải pháp 5: Kết hợp
với cha mẹ trẻ trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ
Như chúng ta đã biết, thời gian trẻ đến trường nhiều hơn rất nhiều so
với thời gian trẻ ở nhà. Những bài học trẻ được học ở trường giúp trẻ phát
triển đúng yêu cầu của độ tuổi, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện cả về
thể chất lẫn tinh thần và nhận thức, giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, tích cực và chủ
động khi tham gia các hoạt động cùng cô và bạn.
Tuy nhiên để công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở trường đạt kết quả tốt
nhất, tránh trường hợp cô giáo ở lớp thì giáo dục trẻ tính tự lập, còn về nhà
cha mẹ lại luôn làm giúp trẻ mọi việc. Chính vì không muốn tình trạng đó xảy ra
nên tôi thường xuyên trao đổi với cha mẹ trẻ trong những giờ đón trả trẻ, điện
thoại trao đổi ngoài giờ, trong các buổi họp cha mẹ trẻ về mọi vấn đề có liên
quan đến trẻ ở trường và và đặc biệt là giáo dục tính tự lập cho trẻ. Bởi không
phải cha mẹ trẻ nào cũng có nhận thức đúng đắn về vấn đề đó.
Cha mẹ trẻ lớp tôi phần đông làm công nhân nên họ ít có
thời gian để quan tâm đến con cái mình, qua các cuộc họp cha mẹ trẻ hoặc những
buổi truyền thông tôi luôn phổ biến và tuyên truyền cách nuôi dạy con theo khoa
học và cách giáo dục đối với trẻ lúc ở nhà.
Ví dụ: Tôi luôn tuyên truyền với cha mẹ trẻ hiểu thế nào là cho trẻ tự
lập, tự làm những việc trong khả năng của trẻ, bố mẹ chỉ là người làm mẫu và
hướng dẫn trẻ làm, không nên làm giúp trẻ, hay khi trẻ đã biết làm rồi thì
người lớn nên khuyến khích động viên trẻ, cho trẻ rèn luyện tính tự lập đó
nhiều lần để trở thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của trẻ.
Ví dụ: Trong các giờ đón trả trẻ, họp cha mẹ trẻ tôi trao đổi và nắm bắt
tình hình của trẻ ở nhà và từ đó có những biện pháp giáo dục đối với từng trẻ.
Tôi tuyên truyền với các bậc cha mẹ trẻ tranh thủ thời gian đọc sách, kể các
câu chuyện cổ tích qua truyện tranh cho trẻ nghe, qua đó rèn luyện đạo đức cho
trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết cách đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè,
yêu thương con người, gợi mở tính tò mò, ham hiểu biết ở trẻ.
Ví dụ: Tôi tuyên truyền với cha mẹ trẻ cần dạy trẻ những nghi thức văn
hóa trong ăn uống, biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống, hơn nữa trẻ sẽ được
cách sử dụng các đồ dùng đúng chức năng một cách chính xác và thuần thục.
8. Hiệu quả mang lại:
Sau khi áp dụng các biện pháp trên, kết quả giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ lớp tôi có những chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả
tốt nhất.
* Đối với trẻ:
- Với sự nhiệt tình của giáo viên, sáng tạo trong phương
pháp giảng dạy và với phương châm “lấy trẻ làm trung tâm” chúng tôi đã giúp trẻ:
+ Trẻ ngoan, lễ phép, mạnh dạn, tự tin, có những thói
quen hành vi văn minh như: Biết chào hỏi khi có khách đến lớp, biết trao nhận
bằng hai tay, biết quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ với bạn bè, cô giáo, không nói
tục, không đánh bạn, không tranh giành đồ chơi với bạn, biết kính trọng người
lớn.
+ Giao tiếp, hợp tác làm việc theo nhóm,
thể hiện tinh thần đồng đội, biết chia sẻ, cư xử với nhau một cách thân thiện,
biết giải quyết vấn đề, giải quyết xung đột. Trẻ tự tin tham gia vào các hoạt
động của trường lớp.
+ Hồn nhiên linh hoạt, mạnh dạn, thông minh và thích đến
trường. Đó là điều mà cha mẹ thật an tâm khi giao con cho giáo viên, cho nhà
trường.
* Đối với giáo viên:
+ Qua
thực hiện những giải pháp nêu trên bản thân tôi đã được trau dồi kiến thức và
kinh nghiệm dạy trẻ qua các môn học, các hoạt động, được cha mẹ trẻ và đồng
nghiệp tin tưởng và quý mến.
+ Được
Ban giám hiệu, đồng nghiệp, cha mẹ trẻ yêu quý tin tưởng và ủng hộ.
* Đối với cha mẹ trẻ:
+ Cha mẹ trẻ đã có chuyển biến rõ rệt về việc quan tâm
đến con em mình. Đặc biệt, cha mẹ trẻ đã bước đầu để con làm những việc vừa sức
như: Tự đi vào lớp, tự cất đồ dùng cá nhân vào tủ của mình.Từ đó, ngày càng tin
tưởng và có trách nhiệm cao hơn trong việc kết hợp với giáo viên và nhà trường
để dạy kỹ năng sống phù hợp với độ tuổi của trẻ.
9. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến:
□ Đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng ra phạm vi
huyện, thị xã, thành phố/sở/ ngành/tập đoàn/tổng công ty… theo chứng cứ đính
kèm
□ Đã phục vụ rộng rãi cho tổ chức hoặc cá nhân trên địa
bàn tỉnh, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng trên địa bàn tỉnh
theo chứng cứ đính kèm
□ Đã phục vụ rộng rãi cho tổ chức hoặc cá nhân tại Việt
Nam, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng tại nhiều tỉnh, thành
theo chứng cứ đính kèm
Tôi/Chúng tôi xin cam đoan mọi thông
tin nêu là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp
luật.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ỨNG DỤNG/CÁ NHÂN CÓ LIÊN QUAN
(Ký,
đóng dấu và ghi rõ họ tên)